Hơn 300 năm trước, vùng Nam Bộ được khai hoang lập vùng, trong đó Đồng Nai là nơi được ra đời sớm nhất. Dấu tích lịch sử ít nhiều chỉ còn trên sử sách. Thế nhưng, danh tiếng Gốm Biên Hòa – Đồng Nai thì vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay và có khả năng sẽ bị mất đi một nét cổ trong cuộc sống hàng ngày của người Nam Bộ.
Lò gốm Hồng Hưng - Tân Vạn.
Tân Vạn vốn dĩ nổi tiếng với những lò gốm nằm cạnh dòng sông Đồng Nai, nếu có dịp quan sát chúng ta sẽ thấy những ống khói của các lò gốm đều hướng vào bên trong khu dân cư chứ không nằm ngoài hướng sông. Có lẽ đó cũng là nguyên nhân cho việc di dời ngày nay.
Thời Pháp thuộc, Tân Vạn - Biên Hòa đã nức danh ở vùng Nam kỳ lục tỉnh và nước ngoài với kiểu dáng sản phẩm và chất men gốm; là nơi có trường dạy nghề gốm đầu tiên ở xứ Đông Dương (1903).
Đất làm gốm lấy ngay tại Tân Vạn, có đặc điểm là đất đỏ pha cát; dùng cũi để đốt; khói của cũi màu đen nên khi sản phẩm ra lò có men màu chắc khỏe và đậm đà. Phương pháp làm gốm vẫn thực hiện bằng thủ công là làm bằng tay, hiện nay có nhiều máy móc đễ làm nhưng những sản phẩm thủ công bao giờ cũng có nét duyên mộc mạc in vào những thớ đất.
Những sắc màu của gốm in đậm dấu thời gian, chắc khỏe và mộc mạc.
Trong khu làm gốm, trên những mái ngói hay tôn thì luôn có những mảng sáng để lấy ánh nắng tự nhiên hong khô sản phẩm trước khi đưa vào lò. Nếu vào mùa mưa thì sau khi làm xong sản phẩm các nghệ nhân đốt cũi trong lòng sản phẩm để cho khô hoặc sau này dùng bóng điện tròn công suất lớn để thắp sáng.
Quá khứ huy hoàng và hưng thịnh đó có giữ lại được một làng nghề truyền thống vang danh một cõi? Chắc chắn là không! Khi đến những lò gốm đó, không gian trầm mặc, nét cổ xưa còn lưu luyến trên những mái ngói âm dương; những lò khói không còn hoặc ít hoạt động nhường chỗ lại cho dây leo bao phủ.
Những lò nung đã lâu ngày không đỏ lửa nằm đó trong sự ưu tư.
Trong khuôn viên Chùa Giác Minh, lò gốm Hồng Hưng vẫn còn đang hoạt động cầm chừng vì cuối năm 2019, lò gốm sẽ chuyển về khu gốm sứ Tân Hạnh. Ở đây, tôi gặp được anh Nguyễn Văn Tân – Cựu học sinh của trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai. Anh là một trong những nghệ nhân làm gốm ở đây được đào tạo chuyên môn bài bản. Gần 30 năm qua anh gắn bó với từng thớ đất, hạt cát của lò gốm này. Anh băn khoăn sau này lớp trẻ có còn chịu suốt ngày “nghịch” với đất, thổi hồn vào đất để tạo ra những sản phẩm gốm dân dã mộc mạc nữa hay không? Công việc nặng nhọc, lương không cao thế nhưng anh vẫn hàng ngày miệt mài với những đường cong, hoa văn tinh tế của đất qau đôi bàn tay thô ráp quanh năm ôm ấp, vỗ về cho những sản phẩm của mình. Thật sự yêu nghề và nặng lòng với đất mới còn có được những nghệ nhân như thế.
Anh Nguyễn Văn Tân – Cựu học sinh Khoa Gốm
của trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai đang say sưa làm việc.
Bên cạnh Chùa Sắc Tứ là lò gốm Trường Thịnh, khung cảnh thật lặng lẽ đìu hiu, hơn một năm rồi lò không hoạt động đốt lò nung gốm nữa. Một phần sản xuất đã di dời, chỉ còn lại một số ít làm việc ở đây.
Như đâu đó hơi thở của Gốm vẫn còn vương vấn với thời gian.
Khuôn viên rộng mênh mông nhưng vắng tiếng người, tôi len lõi qua từng bờ lò để thấy sự trống trãi, những mái ngói âm dương vụn vỡ theo thời gian. Sâu bên trong, tôi mới gặp được một thanh niên đang say sưa làm việc. Thấy tay chân anh ấy thoăn thoắt bưng từng miếng đất, đắp vào thành lu để tạo hình. Tôi chỉ quan sát và không bắt chuyện nhiều, chỉ vài lời chào hỏi xã giao để biết anh ấy từ ngoài Bắc vào, yêu thích công việc làm gốm ở đây và ở lại như một sự trãi nghiệm. Nhưng sự trãi nghiệm ấy đã gắn kết với anh hơn 10 năm qua. Đất nở hoa từ bàn tay anh và anh cũng thành duyên với người yêu tại nơi này. Hai vợ chồng hàng ngày cùng nhau làm đất, nặng hình... cùng nhau xây dựng hạnh phúc trên từng xe đất và những giọt mồ hôi.
Những chậu Gốm như những người bạn đồng hành
hằng ngày cùng người nghệ nhân yêu nghề.
Tôi hay lang thang trong những con hẻm cũ để tìm về quá khứ. Bùn đất, mùi rơm rạ, khói chiều… như là một phần cuộc sống trong tôi. Tôi ngồi hàng giờ ở đó để ngắm nhìn những họa tiết, chất liệu, những sắc màu của gốm, để rồi nghe sự thanh thản của từng cơn gió lộng từ ngoài sông thổi vào tâm hồn.
Ngồi đó để nghe các anh các chị nói chuyện về Gốm, về những nổi boăn khoăn trong cuộc sống, trong những tiếng vang lên từ Gốm. Có thể là cả đời của các anh chị sẽ gắn liền với đất, gắn liền với màu của đất, và gắn liền với sự nhọc nhằn và những giọt mồ hôi. Nhìn vào, ai cũng thấy sự lấm lem bùn đất, là sự cơ hàn; thế nhưng, những tiếng cười giòn tan vang lên trong buổi trưa hè như xóa tan đi bao nỗi nhọc nhằn.
Trong ánh nắng chói chang của mùa hè, dưới bóng mát của cây sung các anh chị hăng say với công việc thường nhật của mình.
Dần dần ánh lửa đốt lò bập bùng reo cười đã thay bằng đốt bằng gas, nhưng những đôi bàn tay nặng tình với đất vẫn còn mãi với thời gian dù đó chỉ là Ký ức.
Bên trong những mái lò nặng màu thời gian đó vẫn còn những con người gắn tình với Gốm, hằng ngày hòa trộn đôi bàn tay tài hoa với những sản phẩm thủ công chân chất, mộc mạc như ảng, lu, chén, bình... Chỉ có lòng yêu nghề và sự gắn bó mới tiếp tục công việc hàng ngày như thế. Công việc thì suốt ngày lấm lem bùn đất, gắn với đất như một cái nợ tiền kiếp khó khăn lắm mới dứt áo ra đi tìm nguồn sống mới.
...Đầu năm 2020, những lò gốm này không hoạt động nữa do yêu cầu của Nhà nước về việc di dời ra khỏi vùng sinh hoạt của người dân.
Biên Hòa, cuối tháng 5 năm 2019.


No Comment